Để đề phòng nhiễm độc CO, người ta sử dụng mặt nạ phòng độc có chứa những hóa chất là; A. CuO và MnO2. B. CuO và MgO. - Hoc24 HOC24 Hỏi đáp Đề thi Video bài giảng Đăng nhập Đăng ký Khối lớp Lớp 12 Lớp 11 Lớp 10 Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Lớp 4 Lớp 3 Lớp 2 Lớp 1
Để đề phòng bị nhiễm độc CO, người ta sử dụng mặt nạ với chất hấp phụ là: A. Đồng (II) oxit và than hoạt tính B. Than hoạt tính C. Đồng (II) oxit và Magie oxit D. Đồng (II) oxit và Mangan dioxit Xem lời giải Câu hỏi trong đề: 145 Bài tập Cacbon - Silic ôn thi Đại học có lời giải !! Bắt Đầu Thi Thử Quảng cáo Giải bởi Vietjack
Các biện pháp nào được sử dụng để phòng tránh nhiễm độc thực phẩm? A. Không ăn những thức ăn nhiễm vi sinh vật và độc tố. B. Không dùng thức ăn bản thân có sẵn chất độc. C. Không sử dụng đồ hộp hết hạn sử dụng. D. Đáp án A, B C đúng.
Để đề phòng bị nhiễm độc khí CO và một số khí độc khác, người ta sử dụng mặt nạ với chất hấp phụ nào sau đây? A. Magie oxit B. Than hoạt tính C. Mangan dioxit
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi cụ thể về bệnh nhiễm độc nicotin với bác sĩ Nhật Lan về căn bệnh này. Bệnh nhiễm độc nicotin: nguy cơ, phòng và trị - 1Nicotin có trong thuốc lá với tỷ lệ thay đổi từ 0,05 - 8%, thường là 2 - 3%. Hút thuốc lá làm tăng thêm tỉ lệ tử vong
- Lưu ý đeo mặt nạ phòng độc, đề phòng cháy nổ khí CO b. Liệu pháp oxy: - Cho thở oxy càng sớm càng tốt, tốt nhất là ngay sau khi lấy máu xét nghiệm nồng độ HbCO Cho thở oxy càng sớm càng tốt - Thở oxy 100% qua mask hoặc qua lều oxy cho trẻ em giúp cải thiện nhanh các triệu chứng lâm sàng, áp dụng cho các trường hợp ngộ độc mức độ nhẹ.
buEXZKB. Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Quang - Khoa Hồi sức tích cực - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Các triệu chứng lâm sàng của ngộ độc CO rất khác nhau và phần lớn không đặc hiệu. CO gây ảnh hưởng đến việc vận chuyển oxy do phân tử khí CO gắn quá chặt vào phân tử Hemoglobin, chiếm mất vị trí Hemoglobin gắn với oxy dẫn tới oxy không được Hemoglobin vận chuyển đến mô tế bào. Ngộ độc carbon monoxide CO là một dạng ngộ độc phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong cao cho người bệnh mắc phải. Việc chẩn đoán khó khăn do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu. CO gây ảnh hưởng đến việc vận chuyển oxy do phân tử khí CO gắn quá chặt vào phân tử Hemoglobin, chiếm mất vị trí Hemoglobin gắn với oxy dẫn tới oxy không được Hemoglobin vận chuyển đến mô tế Dịch tễNgộ độc CO là phổ biến nhất trong mùa đông ở vùng khí hậu lạnh, nhưng nó có thể xảy ra trong tất cả các mùa và môi trường. Hít phải khói có CO hầu hết do vô tình và không biết trước dẫn tới khó khai thác được căn nguyên từ đầu nếu người bệnh đã suy giảm ý nguồn CO gốm Hệ thống lò sưởi lạc hậu, thiết bị đốt nhiên liệu không đúng cách ví dụ, lò sưởi dầu hỏa, bếp than, bếp cắm trại, máy phát điện chạy bằng xăng, xe cơ giới hoạt động ở khu vực thông gió Cơ chế gây ngộ độc Cơ chế gây ngộ độc của CO CO khuếch tán nhanh qua qua phế nang, qua màng mao mạch phổi vào máu và liên kết với nửa sắt của heme với ái lực lớn hơn khoảng 240 lần so với ái lực oxy, liên kết này bền vững hơn oxy rất nhiều dẫn tới nhân Heme không thể gắn với oxy được nữa. 2. Biểu hiện lâm sàng ngộ độc khí CO Các triệu chứng lâm sàng của ngộ độc CO rất khác nhau và phần lớn không đặc hiệu. Bệnh nhân nhiễm độc CO nhẹ đến trung bình thường có các triệu chứng không đặc hiệu gồm Đau đầu phổ biến nhất, khó chịu, buồn nôn và chóng mặt, và có thể bị chẩn đoán nhầm với hội chứng virus cấp tính. Với nhóm bệnh nhân không có chấn thương hoặc bỏng, các dấu hiệu lâm sàng gợi ý ngộ độc CO thường là các thay đổi về tình trạng tâm thần, từ nhầm lẫn nhẹ đến co giật và hôn mê. Khám thần kinh cẩn thận là rất quan trọng để phát hiện ngộ độc chứng thiếu máu cơ tim có thể xảy ra. Sau khi đã chẩn đoán nhiễm độc CO, bệnh nhân nên được làm điện tâm đồ ECG; xét nghiệm các dấu ấn sinh học tim để chẩn đoán chính yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng thiếu máu cơ tim gồm Tuổi trên 65, hoặc có tiền sử bệnh tim hoặc các yếu tố nguy cơ tim. Chẩn đoán ngộ độc CO dựa trên tiền sử và khám thực thể kết hợp với định lượng nồng độ carboxyhemoglobin tăng cao trong máu. Các dấu hiệu khác như SpO2 không thể phân biệt giữa oxyhemoglobin và COHb. Các phép đo PO2 trong máu có xu hướng bình thường vì PO2 chỉ phản ánh mức O2 hòa tan trong máu và quá trình này không bị ảnh hưởng bởi CO. 3. Điều trị ngộ độc khí CO Mô hình thở oxy cao áp Đánh giá liên tục và các can thiệp kịp thời đảm bảo đường thở, hô hấp và tuần hoàn của bệnh nhân bị nhiễm độc CO là hết sức quan trọng. Khuyến cáo tất cả bệnh nhân có hôn mê hoặc suy giảm ý thức nghiêm trọng nên được đặt nội khí quản và thở máy khuyến cáo 1B.Các biện pháp can thiệp quan trọng nhất điều trị bệnh nhân nhiễm độc CO là loại bỏ kịp thời nguồn CO và cho thở oxy 100% bằng mặt nạ hoặc ống nội khí quản. Người bệnh nên điều trị ban đầu bằng oxy bình thường 100 phần trăm cho tất cả các nạn nhân nghi ngờ bị ngộ độc CO, bất kể SPO2 và PO2 động mạch bình thường khuyến cáo Độ 1B.Ở những bệnh nhân bị nhiễm độc nặng, điều trị liệu bằng oxy cao áp HBO để giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của biến chứng thần kinh mãn tính sau ngộ độc CO. Các chuyên gia đã công bố về vai trò của oxy cao áp. Bác sĩ đề nghị chỉ định HBO trong các trường hợp sau khuyến cáo 2BMức CO> 25 %Mức CO> 20 % ở bệnh nhân mang thaiMất ý thứcNhiễm toan chuyển hóa nặng pH < chứng thiếu máu cục bộ cơ quan ví dụ, thay đổi điện tâm đồ, đau ngực, thay đổi trạng thái tâm thầnNhiều bệnh nhân có triệu chứng nhẹ do ngộ độc không chủ ý có thể được quản lý tại khoa cấp cứu và xuất viện an toàn. Bệnh nhân có các triệu chứng nặng, có thay đổi điện tim hoặc bằng chứng xét nghiệm, hoặc những người có các yếu tố bệnh lý nặng đi kèm khác nên được nhập viện. Xác định cơ chế phơi nhiễm là rất quan trọng trong các trường hợp ngộ độc không chủ ý nhằm hạn chế rủi ro cho người viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Hướng dẫn sơ cứu ngộ độc rượu XEM THÊM Hướng dẫn cách đo Spo2 tại nhà đúng cách Dấu hiệu ngộ độc khí carbon monoxide Người bị ngộ độc khí CO từ than củi cần xử trí thế nào?
Tình trạng ngộ độc asen cấp tính thường xảy ra khi hấp thụ một lượng lớn asen qua đường tiêu hóa hoặc hô hấp. Các triệu chứng xuất hiện sau nửa giờ thường là Khô miệng, kèm theo khó nuốt Đau bụng dữ dội Nôn Tiêu chảy nặng Phân có nhiều hạt như hạt gạo lẫn máu như bệnh tả Mất nước Tiểu ít Thân nhiệt và huyết áp giảm Thường có kèm theo tình trạng viêm ống thận cấp Chuột rút và co giật Uể oải, gà gật Trạng thái lơ mơ, nhầm lẫn Đau đầu Có vị kim loại trong miệng Hơi thở có mùi khó chịu như tỏi Tăng tiết nước bọt Đổ nhiều mồ hôi Có máu trong nước tiểu Trong trường hợp hít phải hoặc hấp thụ 1 lượng asen ít đậm đặc hơn, các triệu chứng có thể mất nhiều thời gian hơn để bộc phát. Khi đó, người bệnh có thể bắt đầu bị co giật và thay đổi sắc tố móng tay. Nhiễm độc asen mạn tính thường có các triệu chứng như Khó chịu, đau bụng Cơ thể ngứa ngáy Đau các khớp, suy nhược Tiêu chảy hoặc táo bón Ban đỏ ngoài da Phù mi mắt dưới Mặt hốc hác Niêm mạc tổn thương như viêm lợi, viêm họng, viêm niêm mạc đường hô hấp trên chảy nước mũi, ho, khàn giọng, viêm màng tiếp hợp đỏ mắt Cảm giác tê cóng, bỏng da, kiến bò hoặc ngứa Run, co giật cơ Teo cơ Viêm nhiều dây thần kinh gây liệt chi hoặc rối loạn cảm giác Viêm loét, loạn sừng lòng bàn tay, bàn chân, sạm da, rụng lông tóc Suy gan, viêm – suy thận Có thể gây ra ung thư da, phổi, xương Ngộ độc thạch tín thường ảnh hưởng đến da, gan, phổi và thận. Người bệnh có thể xuất hiện các mảng dày sừng trên lòng bàn tay, bàn chân như mụn cơm, lớn dần bằng hạt đậu xanh hay hạt đậu phộng, lan rộng thành mảng. Chúng thường mọc đối xứng hai bên, đôi khi xuất hiện cả ở lưng, bụng, đùi, cẳng chân, cánh tay. Da vùng này vàng, có thể có vết nứt nẻ. Trong giai đoạn cuối, các triệu chứng có thể nặng lên thành co giật và sốc, dễ dẫn đến hôn mê hoặc tử vong. Nếu sống sót, khả năng phục hồi vẫn rất chậm sau nhiều tháng. Khi khỏi, móng tay người bệnh thường xuất hiện vân khía ngang, trong nước tiểu có hồng cầu, protein do thận chưa hồi phục. Nguyên nhân Nguyên nhân của nhiễm độc asen là gì? Nước từ giếng khoan có thể bị nhiễm độc asen Nguyên nhân chính của nhiễm độc asen là do hấp thụ một lượng asen độc hại qua hít thở, tiêu hóa uống nước từ mạch nước ngầm nhiễm độc hay hấp thụ qua da. Nếu lượng asen lớn có thể dẫn đến tử vong trong thời gian ngắn, còn việc hấp thụ một lượng nhỏ hơn trong một thời gian dài thì lại gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng cho cơ thể. Đa số các trường hợp nhiễm độc asen là từ điều kiện nghề nghiệp khi phải tiếp xúc với lượng lớn bụi, hơi khói, sương mù trong quá trình xử lý quặng asen, sản xuất các hợp chất asen, sử dụng các hợp chất asen trong công nghệ da, thủy tinh màu, điện tử… trong công nghiệp khai thác mỏ và luyện kim đặc biệt là luyện kim màu do asen có trong quặng thiếc, vàng, mangan…. Riêng với kỹ nghệ luyện kim, tỷ lệ asen cao trong quặng sẽ bị nhiệt độ lò luyện làm cho nóng chảy, bay hơi gây ô nhiễm môi trường lao động, gây nhiễm độc cấp hoặc mạn tính cho người tiếp xúc. Chẩn đoán và điều trị Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào giúp chẩn đoán nhiễm độc asen? Các đối tượng cần chẩn đoán nhiễm độc asen là người lao động làm việc trong môi trường có hơi, bụi asen hay các hợp chất vô cơ của asen cao hơn giới hạn tối đa cho phép 0,3mg/m, có thời gian tiếp xúc lâu. Các xét nghiệm máu, tóc, nước tiểu và móng tay có thể giúp bác sĩ chẩn đoán. Xét nghiệm nước tiểu nên được thực hiện trong vòng 1-2 ngày kể từ khi tiếp xúc ban đầu để có biện pháp chính xác khi xảy ra nhiễm độc. Bác sĩ có thể tiến hành định lượng asen niệu. Nếu kết quả >100 micromol creatinin/lít hoặc hơn 0,1mg/lít nước tiểu và có các dấu hiệu lâm sàng như đã đề cập thì có thể chẩn đoán xác định nhiễm độc asen. Xét nghiệm trên tóc và móng tay có thể đánh giá mức độ tiếp xúc với asen trong khoảng thời gian lên tới 12 tháng. Các xét nghiệm này có thể cho biết chính xác mức độ tiếp xúc với asen nhưng không cho thấy những ảnh hưởng đối với sức khỏe của con người. Những phương pháp điều trị nhiễm độc asen Việc điều trị phụ thuộc vào loại nhiễm và giai đoạn nhiễm. Tuy nhiên đến nay chưa có phương pháp điều trị triệt để nhằm đào thải asen ra khỏi cơ thể mà chỉ có thể giảm thiểu những tác hại từ asen sau khi phát hiện nhiễm. Những phương pháp đó là Bỏ trang phục có thể đã bị nhiễm asen Tắm rửa kỹ và cọ sạch vùng da tiếp xúc hay bị ảnh hưởng Truyền máu Dùng thuốc trợ tim trong trường hợp tim bắt đầu suy yếu Bổ sung khoáng chất nhằm làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề về nhịp tim có thể gây tử vong Theo dõi sát sao chức năng thận Tưới rửa ruột nhằm loại bỏ lượng asen lắng và ngăn không cho hấp thụ vào ruột Ngoài ra, bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp Chelation để phân lập asen từ protein máu bằng một số hóa chất, bao gồm axit dimercaptosuccinic và dimercaprol. Phòng ngừa Những biện pháp nào giúp phòng ngừa nhiễm độc asen? Một số biện pháp giúp phòng ngừa nhiễm độc asen tại nơi làm việc là Tổ chức thông hút gió và hút bụi, hơi asen tại chỗ Xây tường nhẵn, nền phân xưởng và lối đi chung phải không thấm nước, được cọ rửa hàng ngày Thay thế các hợp chất asen tan trong nước bằng hợp chất không tan Công nhân thường xuyên làm việc trong môi trường có asen phải khám định kỳ đầy đủ để phát hiện những biểu hiện sớm của nhiễm độc asen mạn tính Môi trường lao động cần được giám sát định kỳ ít nhất 1 năm 1 lần Mặc quần áo bảo hộ lao động đầy đủ và phù hợp với công việc Cấm ăn uống, hút thuốc tại nơi làm việc Tắm rửa, thay quần áo sau mỗi ca lao động Tại hộ gia đình có dùng nước giếng khoan, để đề phòng nhiễm độc asen cần dùng bể lọc có giàn phun mưa nếu nước nhiễm sắt nhiều 5mg/l trở lên hoặc dùng các thiết bị lọc asen. Bên cạnh đó, người dân cần Kiểm tra nguồn nước gần đó để xác định asen nếu có Cẩn thận khi lưu trữ nước mưa, cần che chắn kỹ càng trong các bồn chứa sạch Khoan giếng sâu để lấy nước vì giếng càng sâu, nước càng ít chứa asen Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay phương pháp điều trị y khoa.
Monoxyt cacbon CO là một loại khí không gây kích thích, không vị, không mùi, được sinh ra do sự đốt cháy không hoàn toàn các chất có thành phần carbon như than, dầu diezen và các chất đốt khác… Nguồn CO trong môi trường còn là khói thuốc lá, khói thải của xe hơi, đun nấu, sưởi bằng than. Một số hóa chất như chlorur mythylen được chuyển thành CO trong cơ xâm nhập cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp... Các tổn thương đầu tiên của nhiễm độc CO xảy ra với hệ thần kinh trung ương vỏ não, nhân dưới vỏ não, đồi thị kéo theo tổn thương cả thần kinh ngoại biên. Bên cạnh sự phát triển các tổn thương thần kinh, CO còn gây rối loạn tuần hoàn mạch, làm tăng tính thấm của mạch máu, nhất là các mao mạch, gây xuất huyết ở hàng loạt các cơ quan não, phổi, đường tiêu nghề có nguy cơ nhiễm độc CO Sản xuất khí thấp; các lò công nghệ lò cao, lò đốt gạch, vì vậy cần trang bị hệ thống thông gió, lọc bụi...Biểu hiệnNhiễm độc cấp tính Các triệu chứng nhiễm độc tùy theo mức độ nặng, nhẹ phụ thuộc vào nồng độ CO trong không khí, thời gian tiếp xúc và đặc điểm mẫn cảm của từng cá thể và chủ đạo là các biểu hiện tổn thương thần kinh trung nhẹ Bệnh nhân cảm thấy nặng đầu, đau nhói hai bên thái dương và vùng trán, choáng váng, ù tai, hoa mắt, xa xẩm mày mặt, run chân tay, đau thắt ngực, mệt, buồn nôn, nôn. Da và niêm mạc của bệnh nhân hồng hào. Nhịp tim, mạch nhanh, thở nhanh, rối được chuyển ra khỏi khu vực ô nhiễm CO, được thở không khí giàu oxy, các biểu hiện bệnh thuyên giảm dần, bệnh nhân có thể khỏe mạnh trở lại sau 1-2 với công nhân đã có bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu ở não, có chứng đột quỵ stroke, cơn đau tim, nhồi máu cơ tim, bệnh có thể nặng lên khi chỉ mới tiếp xúc với một lượng CO hơi tăng. Sự tiếp xúc mạn tính với lượng CO thấp có thể gây biến đổi nhẹ về thần kinh, tăng huyết khối và ở phụ nữ mang thai có những biến đổi ở bào nặng Các triệu chứng nhiễm độc có thể kéo dài vài ngày, bệnh nhân thờ ơ, vô cảm, dần chuyển sang mê sảng, suy giảm, mất trí nhớ, co giật cơ, ngất, đồng tử giãn, phản xạ yếu với ánh sáng, giảm phản xạ cơ-gân, cứng gáy. Thở nông, nhanh, mạch nhanh, yếu, giảm trương lực cơ, đặc biệt là chi dưới, bệnh nhân không đứng được, hai chân run, co giật, chuyển sang liệt không đi được. Nếu bệnh nhân mê sảng lâu trên 48 giờ, tiên lượng xấu. Trong các trường hợp thuận lợi, bệnh nhân tỉnh dần, khi đó có các biểu hiện bứt rứt, kích khám thấy viêm họng, phù nề thanh quản, thở rít, sau 2-3 ngày có thể thấy triệu chứng viêm phế quản-phổi, tổn thương do thiếu oxy mô phổi, xuất huyết; rối loạn nhịp tim, nhịp nhanh, huyết áp tụt, thiếu máu cơ tim; ban đỏ, mề đay, hoại độc mạn tínhCác triệu chứng nhiễm độc CO mạn tính không điển hình, chỉ có giá trị khi phối hợp với các yếu tố tiếp xúc hay hoàn cảnh phát sinh bệnh. Chủ yếu là các triệu chứng liên quan tới tổn thương thần đầu thường là dấu hiệu đầu tiên, rất hay gặp, đau nhói từng cơn dữ dội. Đau đầu tăng trong ngày lao động, nhiều nhất là vào cuối ca, trong suốt tuần lao động và giảm bớt đau trong ngày nghỉ cuối tuần; bệnh nhân có cảm giác đứng không vững, thể lực giảm sút; chóng ra còn gặp các triệu chứng khác như rối loạn tiêu hóa ăn không ngon, hay buồn nôn, ho, khó thở gắng sức, hồi hộp, lo âu, đau vùng tim, hay buồn ngủ, rối loạn cảm giác, rối loạn thị giác ruồi bay, ám điểm, biến đổi vi rối loạn do nhiễm độc CO nghề nghiệp không thể hết được nếu còn tiếp tục tiếp xúc. Bệnh giảm nhanh khi ngừng tiếp xúc, các rối loạn chức năng giảm đi rõ rệt vào tuần thứ 2-3, bệnh khỏi trong vòng 1-2 phòng ngộ độc CO cách nào?Lắp đặt hệ thống thông gió, hút bụi, hơi khí độc nơi sản xuất; Giám sát thường xuyên nồng độ CO trong không khí môi trường lao động đối với các ngành nghề có nguy cơ nhiễm độc CO; Cung cấp oxy đầy đủ khi đốt các vật liệu có cacbon sẽ giảm sự phát sinh CO. Thông gió đối với lò. Nơi xảy ra hỏa hoạn, phải có trang bị phòng hộ, có dụng cụ thở; Trang bị mặt nạ cho công nhân làm việc ở những vùng ô nhiễm CO trí thế nào?Phải đưa nạn nhân ra khỏi vùng tiếp xúc cho thở oxy nhiều lần trong ngày 3-4 lần/ngày, mỗi lần 10-20 phút.Dùng oxy cao áp có nhiều vấn đề phải giải quyết. ộc tính của oxy, tính gây ngủ của nitơ và bệnh giảm áp có thể xảy ra. Nếu dùng oxy cao áp để điều trị nhiễm độc CO, cần phải để nạn nhân thở oxy 100% trong thời gian chuyển tới phòng tăng nhân nhiễm độc CO phải được theo dõi chặt chẽ, đề phòng phù não nặng có thể xảy ra trong vài giờ. Tổn thương nhẹ hệ thần kinh, hệ tim mạch và thai có thể xảy ra nếu có tình trạng giảm oxy tế Nguyễn Văn Sơn
Nhiễm độc thai nghén là gì? Nhiễm độc thai nghén là một tình trạng bệnh lý riêng biệt của phụ nữ khi mang thai, xuất hiện vào quý I và quý III của thai kỳ với những biểu hiện khác nhau. Để hiểu rõ nhiễm độc thai nghén có nguy hiểm không, trước hết người bệnh cần biết nhiễm độc thai nghén là như thế nào. Đây là bệnh lý gây ra do sự rối loạn co thắt các mạch máu của người mẹ, bao gồm cả hệ thống mạch máu ngoại biên và mạch máu nội tạng như gan, thận, tử cung, não. Hệ quả của hiện tượng này là sự thiếu máu nuôi dưỡng các cơ quan của mẹ và nhau thai, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng cho cả thai và mẹ. Nhiễm độc thai nghén luôn đi trước trong hầu hết các trường hợp sản giật, là biến chứng nghiêm trọng thường xảy ra trong 3 tháng cuối thai kỳ với tỷ lệ tử vong rất cao. Những đứa trẻ được sinh ra từ người mẹ bị nhiễm độc thai nghén thường nhẹ cân, chậm phát triển so với tuổi thai và dễ bị ngạt sau sinh. Triệu chứng nhiễm độc thai nghén nổi bật trong 3 tháng đầu thai kỳ là nghén nặng, thai phụ thường nôn nghén quá độ, ăn uống kém. Mặt khác triệu chứng nhiễm độc thai nghén trong 3 tháng cuối thai kỳ là phù, tăng huyết áp, xuất hiện protein trong nước tiểu,… Nguyên nhân gây ra nhiễm độc thai nghén hiện nay còn chưa rõ nên việc điều trị nhiễm độc thai nghén còn nhiều khó khăn. Thuật ngữ “nhiễm độc thai nghén” có ý nghĩa ám chỉ quá trình thai nghén gây độc lên cơ thể của người phụ nữ mang thai. Thuật ngữ này hiện nay không còn được sử dụng phổ biến như trước nữa, được thay thế bằng thuật ngữ “tăng huyết áp thai kỳ-tiền sản giật-sản giật”. Nguyên nhân gây nhiễm độc thai nghén còn chưa biết rõ. Bất kỳ giả thiết nào liên quan đến nhiễm độc thai nghén nào được đưa ra đều cho rằng nhiễm độc thai nghén thường hay xảy ra ở những phụ nữ có các đặc điểm sau Lần đầu mang thai Có bánh nhau lớn với lượng tế bào lông nhau nhiều như trong sinh đôi hay thai trứng Tình trạng viêm nhiễm hoạt bệnh lý của tế bào nội mô mạch máu như đái tháo đường, béo phì, bệnh lý tim mạch, bệnh lý thận, bệnh lý tự miễn. Dù nguyên nhân là gì, nhiễm độc thai nghén đặc trưng với sự phá hủy tế bào nội mô mạch máu toàn thân với các hiện tượng như co thắt mạch máu, rò rỉ huyết tương, thiếu máu và huyết khối. Triệu chứng nhiễm độc thai nghén biểu hiện khác biệt ở quý I và quý III của thai kỳ. Triệu chứng nhiễm độc thai nghén ở quý I thai kỳ Dấu hiệu nhận biết nhiễm độc thai nghén nổi bật ở khoảng thời gian này là ốm nghén. Trong lúc mang thai, nhiều phụ nữ thường có biểu hiện ốm nghén. Các thai phụ thường gặp phải triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, nhạy cảm với mùi thức ăn. Ốm nghén quá độ trong nhiễm độc thai nghén làm các chị em mệt mỏi, không muốn ăn, buồn nôn và nôn mửa nhiều hơn so với những thai phụ khác. Việc này kéo dài sẽ gây mệt mỏi, tăng cân không hiệu quả hoặc thậm chỉ sụt cân, ảnh hướng nhiều để sức khỏe của thai nhi. Ốm nghén thường xuất hiện khi thai kỳ được 1 tháng và kéo dài đến hết quý đầu. Sau đó, triệu chứng ốm nghén có thể giảm dần rồi mất hẳn khi thai lớn hơn. Ở những trường hợp nhiễm độc thai nghén nặng hơn, thai phụ phải đối mặt với triệu chứng ốm nghén sớm hơn với mức độ nặng nề hơn. Gầy còm, sút cân là dấu hiệu cảnh báo cho một thai kỳ nguy cơ cao. Triệu chứng nhiễm độc thai nghén ở quý III thai kỳ Ở 3 tháng cuối của thai kỳ, dấu hiệu gợi ý nhiễm độc thai nghén trở nên đa dạng hơn, bao gồm Phù thường xuất hiện ở hai chi dưới với đặc điểm phù mềm ấn lõm. Người bệnh có thể tự nhận biết triệu chứng này khi thấy hai chi dưới sưng to, chỗ lõm hai mắt cá chân được lấy đầy. Thai phụ dùng tay ấn vào mặt trước cẳng chân hoặc mắt cá chân thấy lõm tức là có triệu chứng phù. Ở những trường hợp nặng, thai phụ có thể có phù xuất hiện ở mặt và cả hai tay. Phân biệt với triệu chứng phù hai chi dưới do tử cung chèn ép, không cho máu trở về tim bằng cách cho thai phụ nằm nghiêng trái và kê cao hai chân. Nếu triệu chứng không biến mất cần đến gặp bác sĩ vì phù có thể do nhiễm độc thai nghén gây nên. Những thai phụ bị phù do thai nghén chèn ép thì chỉ cần nằm nghỉ ngơi, gác cao chân sẽ hết phù. Còn ở nhiễm độc thai nghén thì phù ở chân không giảm sau nghỉ ngơi. Hiện tượng phù không chỉ xuất hiện ở dưới da mà còn ở trong các cơ quan bên trong, nước thoát ra trong các khoảng kẽ, gây nên các triệu chứng nhức đầu, hoa mắt, đau bụng,… Tăng cân nhanh được gọi là tăng cân nhanh khi trong 3 tháng cuối thai kỳ, mỗi tuần thai phụ tăng nhiều hơn 0,5 kilogram do nước bị giữ lại trong cơ thể. Khi đó bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm nước tiểu để định lượng protein. Nếu protein niệu > 0,3g/l thì thai phụ được chẩn đoán nhiễm độc thai nghén và theo dõi cẩn thận. Lượng protein niệu càng nhiều thì nhiễm độc thai nghén càng nặng. Tăng huyết áp được định nghĩa khi huyết áp của thai phụ đo được trên 140/90 mmhg hoặc khi huyết áp tối đa tăng thêm ít nhất 30mmhg và/hoặc huyết áp tối thiểu tăng thêm ít nhất 15mmhg so với huyết áp trước khi mang thai. Cùng với phù và xuất hiện protein niệu, tăng huyết áp là một dấu hiệu thường gặp trong nhiễm độc thai nghén. Tùy vào mức độ nhiễm độc thai nghén, bệnh nhân có thể chỉ có một trong ba triệu chứng trên, hoặc có cả ba triệu chứng. Tiểu ít lượng nước tiểu ngày càng giảm đi so với trước đây. Phù càng nhiều, thai phụ tiểu càng ít. Nhiễm độc thai nghén nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như tiền sản giật và sản giật. Tiền sản giật Ngoài các triệu chứng nhiễm độc thai nghén, bệnh nhân còn gặp phải các triệu chứng như choáng váng, đau đầu, mắt mờ, đau bụng, protein niệu cao, có khi >0,5g/l. Lúc này thai phụ cần được nhập viện theo dõi. Việc xác định tuổi thai chính xác và chấm dứt thai kỳ đúng lúc đóng vai trò tiên quyết trong điều trị bệnh. Tiền sản giật không được theo dõi sát và điều trị đúng đắn sẽ dẫn đến cơn sản giật. Sản giật Là biến chứng nặng nhất của nhiễm độc thai nghén với tỷ lệ tử vong cho mẹ và con cao. Sản giật thường xảy ra ở những phụ nữ sinh con so. Thai phụ có những cơn co giật toàn thân mạnh rồi co cứng toàn bộ, đầu ưỡn cong ra sau, mắt đảo rồi nhìn ngược lên trên, sau đó chuyển sang trạng thái giật rung nhanh, co giật ở mặt, tay chân, sùi bọt mép, ngừng thở sau đó co giật giảm dần và chuyển sang hôn mê. Với tính chất co giật mạnh, bệnh nhân có thể cắn phải lưỡi gây chảy máu hoặc gặp phải chấn thương do rớt khỏi giường. Giai đoạn co cơ và thư giãn cơ xảy ra xen kẽ, và có thể kéo dài trong một vài phút. Bệnh nhân sản giật thường tử vong trong bối cảnh suy tim, phù phổi, nhồi máu não. Có thể chia sản giật làm 3 loại, phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện cơn sản giật Sản giật trước sinh thường xảy ra ở những tháng cuối thai kỳ, sau 30 tuần. Thai nhi thường chết, nếu may mắn được sinh ra, thai nhi thường non tháng. Sản giật trong khi chuyển dạ là một chỉ định của mổ lấy thai cấp cứu. Sản giật sau sinh thường xảy ra vài giờ sau sinh. Cần chuyển sản phụ đến những cơ sở y tế đủ thẩm quyền và năng lực để điều trị. Nguyên nhân gây ra nhiễm độc thai nghén chưa được biết rõ nhưng có nhiều yếu tố được xác định làm tăng nguy cơ mắc nhiễm độc thai nghén ở thai phụ. Một số yếu tố được liệt kê bên dưới Thai phụ trẻ và mang thai con so đây là đối tượng dễ mắc nhiễm độc thai nghén hơn so với người phụ nữ đã mang thai nhiều lần trước đó. Tỷ lệ bị nhiễm độc thai nghén ở phụ nữ sinh con so khoảng từ 3-10% trong khi ở phụ nữ sinh con rạ chỉ khoảng từ 1,4-4%. Chủng tộc phụ nữ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn Thời tiết lạnh, đang chuyển mùa. Thường xuyên mệt mỏi, làm việc quá sức trong lúc mang thai. Thể trạng béo phì, BMI>30 Sử dụng thực phẩm dễ gây dị ứng. Các bệnh lý nội khoa như viêm loét dạ dày, suy thận mãn tính, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch. Các bệnh lý tự miễn như bệnh lupus toàn thân, hội chứng kháng phospholipid. Mang thai con trai có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn dù chênh lệch không nhiều. Tiền sử mắc nhiễm độc thai nghén ở lần mang thai trước. Những thai phụ có tiền sử bệnh tim mạch, tăng huyết áp, viêm cầu thận, thai phụ to béo, mang thai đôi, nhiều nước ối, có bệnh tiểu đường.. Nguyên nhân nhiễm độc thai nghén không rõ ràng nên không có biện pháp nào phòng bệnh hiệu quả. Thai phụ cần đi khám thai định kỳ và báo với bác sĩ khi có dấu hiệu bất thường là phương án tốt nhất. Một vấn đề quan trọng khác là cần đề phòng biến chứng sản giật ở những thai phụ đã được chẩn đoán nhiễm độc thai nghén. Một số biện pháp giúp dự phòng biến chứng sản giật Thai phụ cần được theo dõi sát và quản lý thai nghén tốt đi khám đúng hẹn, đến gặp bác sĩ ngay khi phát hiện các vấn đề bất thường Chuyển lên tuyến cao hơn nếu thai phụ được phát hiện phù, tăng huyết áp ở trạm y tế Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng Tuân thủ điều trị của bác sĩ khi được chẩn đoán nhiễm độc thai nghén Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như phù hai chi dưới, tăng huyết áp, tăng cân nhanh, bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm nước tiểu định lượng protein để chẩn đoán nhiễm độc thai nghén. Ngoài ra một số xét nghiệm khác cũng được chỉ định để đánh giá mức độ nặng của bệnh, bệnh đã có biến chứng hay chưa như Công thức máu lưu ý số lượng tiểu cầu Men gan Chức năng thận ure, creatinine máu Siêu âm bụng Nguyên tắc điều trị nhiễm độc thai nghén phải bao gồm việc bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Các biện pháp điều trị bao gồm Điều trị không thuốc chế độ sinh hoạt, ăn uống lành mạnh, hạn chế muối, hạn chế căng thẳng, không làm việc nặng nhọc. Điều trị thuốc bác sĩ thường chỉ định hai nhóm thuốc lợi tiểu và thuốc hạ huyết áp để kiểm soát hai triệu chứng phù và tăng huyết áp. Nhóm thuốc an thần và chống co giật như magie sulfate được dùng để dự phòng và điều trị tiền sản giật. Ngoài ra, khi nhiễm độc thai nghén tiến đến tiền sản giật hoặc sản giật, việc chấm dứt thai kỳ để lấy thai nhi ra ngoài là biện pháp điều trị triệt để. Trước đó, mẹ và thai nhi sẽ được đánh giá một cách toàn diện. Xem thêm Nghén nặng quá, ăn gì cho đỡ? Làm thế nào để giảm nghén khi mang thai? Ốm nghén Buồn nôn và nôn khi mang thai lúc nào sẽ bắt đầu?
Ngộ độc carbon monoxide CO gây ra các triệu chứng cấp tính như nhức đầu, buồn nôn, yếu, đau thắt ngực, khó thở, mất ý thức, co giật và hôn mê. Các triệu chứng tâm thần thần kinh có thể phát triển vài tuần sau đó. Chẩn đoán dựa vào nồng độ carboxyhemoglobin và khí máu động mạch, bao gồm cả đo độ bão hòa oxy. Điều trị bằng cách bổ sung oxy. Thường có thể ngăn ngừa được bằng các dụng cụ phát hiện CO tại độc CO là một trong những trường hợp ngộ độc chết gây người phổ biến nhất, xảy ra do hít phải. CO là một khí không màu, không mùi có nguồn gốc từ sự cháy không hoàn toàn của hydrocarbon. Các nguồn CO phổ biến trong các vụ ngộ độc bao gồm các vụ cháy nhà và xả khí ô tô không phù hợp, khí đốt, lò nung, bình đun nước nóng, bếp lò đốt bằng gỗ hoặc than và đốt dầu hỏa. CO được sản xuất khi khí tự nhiên metan hoặc propan cháy. Hít phải khói thuốc lá gây ra CO trong máu nhưng không đủ để gây ngộ độc. Cơ chế gây độc của CO không được biết hoàn toàn. Chúng dường như có liên quan Thay thế oxy từ Hemoglobin vì CO có ái lực lớn hơn đối với Hemoglobin hơn là oxyChuyển đổi đường cong phân ly oxy-Hb sang trái giảm giải phóng oxy từ Hemoglobin đến mô–xem hình vẽ đường cong phân ly Oxyhemoglobin Ức chế hô hấp ty thể Có thể gây độc trực tiếp lên mô não Các triệu chứng và dấu hiệu của ngộ độc CO Các triệu chứng ngộ độc CO có xu hướng tương quan tốt với nồng độ đỉnh của carboxyhemoglobin trong máu của bệnh nhân. Nhiều triệu chứng không đặc hiệu. Nhức đầu và buồn nôn có thể bắt đầu xuất hiện khi nồng độ từ 10 đến 20%.Nồng độ > 20% thường gây cảm giác hơi chóng mặt, mệt mỏi thông thường, khó tập trung và giảm khả năng đánh độ cao hơn có thể gây ngất xỉu, co giật và sững huyết áp, hôn mê, suy hô hấp và tử vong có thể xảy ra, thường khi nồng độ > 60%. Các triệu chứng không đặc hiệu hoặc nhiễm toan chuyển hóa ở bệnh nhân có nguy cơ caoNồng độ carboxyhemoglobin trong máu tĩnh mạchBởi vì các triệu chứng có thể mơ hồ, không đặc hiệu, và biến đổi, chẩn đoán ngộ độc CO thường dễ dàng bị bỏ qua. Nhiều trường hợp ngộ độc nhẹ với các triệu chứng không đặc hiệu bị nhầm lẫn với hội chứng nhiễm virus. Các bác sĩ phải duy trì mức nghi ngờ cao. Nếu những người ở cùng nơi ở, đặc biệt là vùng có khí hậu nóng, có triệu chứng không đặc hiệu giống cúm, nên nghi ngờ việc phơi nhiễm với nghi ngờ ngộ độc CO, nồng độ carboxyhemoglobin trong máu nên được đo bằng thiết bị đo CO trong máu; máu tĩnh mạch nên được dùng, do máu tĩnh mạch và động mạch thường không khác biệt đáng kể. Khí máu động mạch thường không được tiến hành thường quy. Làm khí máu động mạch và đo bão hòa oxy, đơn độc hay kết hợp, thường không thích hợp để chẩn đoán ngộ độc CO, do nồng đỗ bão hòa oxy trong khí máu động mạch đại diện cho độ hòa tan của oxy và do đó không bị ảnh hưởng bởi nồng độ carboxyhemoglobin; Hơn nữa, bão hòa oxy máu không khác thường giữa hemoglobin bình thường và carboxyl hemoglobin, và do đó cung cấp kết quả tăng giả tạo nồng độ oxyhemoglobin. Các máy phát hiện CO không xâm nhập không được chứng minh là chính xác hoặc hữu ích trong chẩn đoán phơi nhiễm hoặc ngộ độc CO. Oxy 100%Có thể dùng buồng oxy cao áp Các biến chứng tim mạch đe dọa tính mạngĐau ngực đang diễn raThay đổi ý thứcMất ý thức dù ngắnNồng độ carboxyhemoglobin > 25%Điều trị bằng buồng oxy cao áp cũng nên được xem xét cho bệnh nhân mang thai, có thể với nồng độ CO huyết thanh thấp hơn so với bệnh nhân không mang pháp buồng oxy cao áp có thể làm giảm tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng thần kinh tâm thần xuất hiện muộn. Tuy nhiên, liệu pháp này có thể gây chấn thương khí áp và do hầu hết các bệnh viện không có liệu pháp này nên có thể yêu cầu chuyển bệnh nhân, những người mà có thể có tình trạng không ổn định; cũng có thể một buồng không có sẵn tại địa phương. Bằng chứng về hiệu quả của liệu pháp buồng oxy cao áp gây tranh cãi nhiều hơn, với một số nghiên cứu cho thấy có hại. Trong trường hợp liệu pháp buồng oxy cao áp được cân nhắc, việc tư vấn với trung tâm kiểm soát độc hoặc chuyên gia về buồng cao áp được khuyến cáo mạnh. Phòng ngừa liên quan đến việc kiểm tra các nguồn đốt trong nhà để đảm bảo chúng được lắp đặt đúng cách và thông gió ra ngoài. Các đường ống dẫn khí thải phải được kiểm tra định kỳ vấn đề rò rỉ. Xe ô tô không bao giờ được để lại chạy trong một gara đóng. Thiết bị dò CO nên được lắp đặt bởi vì chúng cung cấp cảnh báo sớm rằng khí CO có mặt tự do trong khí quyển. Nếu nghi ngờ có CO trong nhà, cửa sổ phải được mở ra, và người trong nhà phải được di tản và đánh giá cho nguồn tạo CO. Ngộ độc CO ví dụ, do cháy nhà, thông gió ô tô không đúng dách, khí lò sưởi,bình đun nước nóng, bếp lò đốt bằng gỗ hoặc than, hoặc lò sưởi dầu hoả là một trong những trường hợp ngộ độc chết người phổ biến xét ngộ độc ở bệnh nhân có các triệu chứng không đặc hiệu ví dụ như triệu chứng giống cúm vào mùa đông hoặc toan chuyển hóa không giải thích nồng đô CO trong máu tĩnh mạch bằng loại trừ ngộ độci dựa vào nồng độ CO bình thường vì nồng độ có thể giảm nhanh, đặc biệt sau khi điều trị bằng bổ sung trị bằng 100% với ngộ độc nặng, tham khảo ý kiến của chuyên gia hoặc trung tâm chống độc để điều trị oxy cao áp. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
để đề phòng nhiễm độc co